Ngày 17.10.2007 Bệnh viện E trung ương kỷ niệm 40 năm ngày thành lập. Tới dự có các đồng chí lãnh đạo Bộ Y tế, các đại biểu trong và ngoài nước, các vị khách quý...
Kính thưa các quý vị đại biểu!
Bệnh viện E ra đời trong chiến tranh theo một quyết định đóng dấu mật của Thủ tướng chính phủ đã chọn 100 cán bộ ưu tú có lý lịch đặc biệt để làm nhiệm vụ đặc biệt phục vụ cho chiến trường miền Nam. Quyết định của Chính phủ cũng mang tên là Quyết định thành lập một Bệnh viện miền Nam. Lịch sử 40 năm có thể phân 3 giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất( 1967- 1975): Là một Bệnh viện của hậu phương lớn phục vụ tiền tuyến lớn miền Nam.
- Giai đoạn thứ hai( 1976- 1993): Phục vụ cán bộ cơ quan Trung ương.
- Giai đoạn thứ ba( 1994 đến nay): Phục vụ các Bệnh nhân có thẻ BHYT và bệnh nhân khám chữa bệnh tự chi trả một phần viện phí.
Giai đoạn thứ nhất: trong thời gian chống Mỹ cứu nước. Sau thất bại của chiến tranh đặc biệt 1963- 1964, Mỹ và chính quyền miền Nam đã tiến hành chiến tranh cục bộ. Lực lượng chi viện cho chiến trường ngày càng lớn với số lượng thương vong từ chiến trường ngày càng nhiều. Thủ tướng đã quyết định thành lập Bệnh viện miền Nam do Bác sĩ Trịnh Kim Ảnh- Giám đốc đầu tiên và các đồng chí Dương Thị Huệ, Nguyễn Trinh Anh, cùng 100 cán bộ đã vượt qua mọi khó khăn, biến khẩu hiệu “ Tất cả vì miền Nam ruột thịt- tất cả để đánh thắng Mỹ xâm lược”, tuần không kể thứ, tháng không kể ngày, xây dựng 40 nhà tranh, tre để đón tiếp bệnh nhân. Hình thành các khu nội A, B, ngoại, chuyên khoa xét nghiệm, nhà ăn và nhà cấp cứu. Sau cuộc tiến công nổi dậy của mùa xuân năm 1968, do yêu cầu mới Chính phủ đã quyết định giao thêm cơ sở Trường Đại học Tài Chính tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội cho Bệnh viện E. Lúc này triển khai 600 giường bệnh, rồi 800 giường, với 800 cán bộ viên chức. Với nhiệm vụ nhanh chóng hồi phục sức khỏe cho cán bộ miền Nam để cung cấp nhân lực cho tiền tuyến lớn, Bệnh viện có vinh dự đón rất nhiều anh hùng chiến sĩ miền Nam như chị Trần Thị Lý, chị Phan Thị Quyên. Đến ngày giải phóng miền Nam, chuyến đi bão táp bí mật của Bác sĩ Trịnh Kim Ảnh- Giám đốc Bệnh viện cũng mang đầy tính lịch sử và đặc biệt. Nhiều đồng chi lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng chí Lê Đức Thọ- Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng, đồng chí Nguyễn Hữu Thọ- Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đã đến thăm Bệnh viện và động viên cán bộ nhân viên Bệnh viện.Bệnh viện cũng được các bạn bè Quốc tế Trung Quốc, Liên Xô, Đông Đức, Cu Ba, Tiệp Khắc giúp đỡ về tinh thần và vật chất. Nhân kỷ niệm 20 năm giải phóng miền Nam, Bệnh viện đã được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì và bia kỷ niệm.
Giai đoạn thứ hai ( từ 1976- 1993): hòa bình lập lại, Bệnh viện được giao nhiệm vụ phục vụ cán bộ cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn Hà Nội, có mức lương từ 70 đồng đến 114 đồng. Bệnh viện không còn sử dụng cơ sở vật chất ở xã Thạch Thất, Hà Tây mà chuyển về tập trung xây dựng cơ sở trên địa bàn hiện nay.
Năm 1976, Bộ Y tế quyết định giao Phòng khám 13 Phan Huy chú của Bệnh viện Việt Xô cho Bệnh viện E quản lý và điều trị cho bệnh nhân ngoại trú nội thành. Một số cán bộ của Bệnh viện C giải thể cũng chuyển về phục vụ tại Bệnh viện E.
Năm 1980, Bộ Y tế giao cho Bệnh viện E đặc trách cán bộ chuyên gia nước ngoài thay cho Bệnh viện Quốc tế xây dựng lại.
Năm 1986, mốc đánh dấu của cuộc đổi mới đất nước nhưng riêng ngành Y tế vẫn trong tình trạng bao cấp nặng nề. Việc bảo đảm thuốc, chăm sóc, ăn, mặc cho trên 600 bệnh nhân là một nhiệm vụ khó khăn, nhưng Bệnh viện vẫn hoàn thành một cách tốt đẹp.
Giai đoạn thứ ba (từ 1994 đến nay): năm 1993 sự nghiệp đổi mới của đất nước và những chính sách mới của ngành Y tế có tác động trực tiếp đến hoạt động của Bệnh viện. Chế độ BHYT bắt buộc ra đời, người bệnh tự chọn cơ sở khám chữa bệnh mình tin tưởng va gần nơi cư trú. Ban đầu lực lượng người tham gia BHYT chưa nhiều nên Bệnh viện phải giảm quy mô từ 600 xuống 300 giường bệnh, Bệnh viện từ hạng I xuống hạng II. Đợt giảm biên chế năm 1993 đã rút biên chế của Bệnh viện xuống 350 cán bộ công chức là một thách thức to lớn. Tuy nhiên Bệnh viện đã từng bước vững vàng vượt qua nhiều khó khăn, bằng việc củng cố bộ phận lãnh đạo, kiện toàn đội ngũ cấp trưởng, phó khoa phòng. Bệnh viện đã năng động đầu tư các trang thiết bị hiện đại như máy chụp cắt lớp vi tính, máy sock điện, máy tán sỏi ngoài cơ thể, bộ mổ nội soi, máy kích sốc, điều trị xương khớp, Xquang tăng sáng truyền hình, siêu am điện não, điện tim và các loại máy xét nghiệm tự động nhiều chỉ số kỹ thuật cao góp phần cứu chữa bệnh nhân.
Năm 1995, Bệnh viện G1 giải thể, phần lớn cán bộ viên chức sát nhập với Bệnh viện E.
Năm 1997 với kết quả năng động hiệu quả, Bộ Y tế tiếp tục giao tăng chỉ tiêu 350 giường bệnh cho Bệnh viện E. Nhân 30 năm thành lập Bệnh viện, Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động hạng nhất.
Năm 2002, Bộ Y tế quyết định chuyển Bệnh viện thành hạng I và giao các nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, cụ thể là tỉnh Lào Cai. Với những thành tích tốt đẹp nhân kỷ niệm 35 năm, Bệnh viện được trao tặng Huân chương độc lập hạng III.
Năm 2005, được nâng lên 380 giường nội trú và 10 giường ngoại trú, tới nay là 410 giường nội trú được cấp kinh phí, thực kê 624 giường.
Năm 2006, đánh dấu một mốc quan trọng là các quan hệ hợp tác Quốc tế mở rộng với tổ chức REI, 2 Bệnh viện của Cộng hòa Phap, với Tổ chức Y tế thế giới.
Bệnh viện cũng luôn được giao trọng trách bảo vệ sức khỏe cho đại biểu Đại hộ Đảng, phục vụ tốt các đợt Seagame, Paragame, Asean, Hội nghị APEC, được tặng nhiều bằng khen.
Năm 2007, Bộ trưởng Bộ Y tế đã duyệt quy hoạch phát triển Bệnh viện đến năm 2020, cấp tài chính bổ sung để phát triển mạng vi tính và nhà Xạ trị. Tháng 3/2007 bộ phận Thận nhân tạo khai trương với hệ thống nước và 43 máy do Cộng hòa Phap tài trợ. 624 giường bệnh có ngày phải nằm ghép tới hàng chục giường bệnh. Bệnh viện đã thực hiện nghị định 43 của Chính phủ, tiền thưởng ABC năm sau cao hơn năm trước. Đảng bộ Bệnh viện luôn đạt trong sạch vững mạnh, Công đoàn vững mạnh và xuất sắc, Cựu chiến binh vững mạnh, Tự vệ 17 năm liền đạt danh hiệu Quyết thắng.
Có thể nói đây là một giai đoạn phát triển năng động với những sáng kiến xã hội hóa, chọn những mũi nhọn kỹ thuật để đầu tư, lấy khoa học kỹ thuật làm động lực để phát triển. Những bài học kinh nghiệm được rút ra:
1. Bệnh viện đã lấy bệnh nhân làm trung tâm, vì bệnh nhân phục vụ. Từ tinh thần bệnh viện miền Nam ruột thịt, tất cả vì bệnh nhân thân yêu.
2. Tinh thần nghiêm túc, ý thức tổ chức kỷ luật.
3. Phát huy truyền thống lao động cần cù chịu khó, khắc phục khó khăn.
4. Có tinh thần dũng cảm, sáng tạo, vượt qua thử thách
Đó là những bài học quan trọng mà các thế hệ lãnh đạo Trịnh Kim Ảnh, Thái Duy Bích, Trần Trí, Nguyễn Xuân Huyên, Trần Ngọc Ân và các cán bộ tiền bối, các nhân viên qua các thời kỳ đã truyền lại cho thế hệ hiện nay.
Thời gian tới Bệnh viện còn một số thách thức:
- Nhu cầu chăm sóc của bệnh nhân ngày càng lớn, chất lượng đòi hỏi ngày càng cao. Khu vực Cầu Giấy gần Bệnh viện E có Bệnh viện Hàn Quốc 1000 giường bệnh và Bệnh viện Hoa Kỳ 300 giường bệnh.
- Việc ứng dụng các kỹ thuật cao ngày càng phát triển đòi hỏi nguồn nhân lực đầu tư lớn. Các Bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức và các Bệnh viện chuyên khoa đã đang được đầu tư lớn, Bệnh viện E phải tìm nguồn đầu tư phù hợp.
- Các nguồn nhân lực, vật lực ngày càng khó khăn, càng bị cạnh tranh, điều kiện chăm sóc bệnh nhân còn nhiều bất cập.
Nhìn lại quá trình 40 năm có ai đó sẽ dưa ra những giả thuyết liệu lịch sử có thể khác đi. Sau chiến tranh hòa bình lập lại, một số bệnh viện đóng cửa hoặc không còn phát triển, có lúc Bệnh viện E đã giảm quy mô, nhưng sau đó lại tiếp tục phát triển. 3 lần chuyển đổi mục tiêu phục vụ với những thành tích to lớn. Có những lúc trên mảnh đất 4 ha có những đề án chia cắt Bệnh viện thành từng phần để phục vụ cho một số chuyên khoa, nhưng điều đó đã không xảy ra. Bệnh viện vẫn là một khối thống nhất. Có những khi sóng gió do hiểu lầm, do bức xúc của một vài cá biệt. Bệnh nhân ngày càng tin cậy, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển. Và chúng ta có thể tự hỏi nếu không đoàn kết, năng động, phát huy sức mạnh của Đảng ủy, Công đoàn, Thanh niên, của mỗi cá nhân thì Bệnh viện sẽ đi đến đâu? Nguồn tài chính của Bộ Y tế hạn chế, chỉ chiếm 30%, nếu không biết phát huy nguồn lực tổng hợp, hợp tác Quốc tế… Bệnh viện sẽ không thể có được những thành quả to lớn như ngày hôm nay và khó có được niềm hy vọng phát triển theo lộ trình của quy hoạch và sự mong đợi của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng như cán bộ viên chức.
Tóm lại, 40 năm qua là một trang sử hào hùng thể hiện sức mạnh vươn lên mạnh mẽ của Bệnh viện. Chúng ta có một lực lượng nhân lực mạnh, có cơ sở hạ tầng tương đối tốt, có sự chỉ đáo sâu sát của Bộ chủ quản, của Quận ủy, đặc biệt sự quan tâm chú ý của các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước trao tặng các Huân chương cao quý nhân dịp kỷ niệm này. Đó là niềm tin, niềm hy vọng lớn, động viên cán bộ viên chức Bệnh viện E tiếp tục phát triển mạnh mẽ, bền vững và đạt thêm nhiều thành tích, đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Xin trân trọng cảm ơn! PGS. TS Đoàn Hữu Nghị- GĐ Bệnh viện E |