English    
Trang chủ
Hút thuốc thụ động dễ bị tiểu đường
Một nghiên cứu tại Anh tìm thấy những ai hút thuốc thụ động có thể gia tăng tình trạng giảm dung
Hà Nội gia tăng bệnh sốt xuất huyết
Trong những ngày gần đây, số bệnh nhân sốt xuất huyết đến Bệnh viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt
TIN TỨC SỰ KIỆN
Công tác phòng chống dịch tiêu chảy cấp tại Bệnh viện E
9:4' 8/1/2008

Từ ngày 31/10/2007 đến ngày 30/11/2007 Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện E đã tiếp nhận và điều trị 190 bệnh nhân “tiêu chảy cấp”. Trong đó gồm 28 ca có nhiễm phẩy khuẩn tả (+) trong phân nhờ xét nghiệm soi tươi và cấy phân của người bệnh do Khoa Vi sinh Y học thực hiện.



Trong vụ dịch tiêu chảy cấp vừa qua xảy ra trên địa bàn thành phố Hà nội và một số tỉnh thành trong phạm vi cả nước, Bệnh viện E đã cùng với các bệnh viện trong khu vực Hà Nội đã tiếp nhận, điều trị cho hàng trăm người bệnh mắc bệnh tiêu chảy cấp, góp phần chẩn đoán, điều trị, dự phòng và dập tắt dịch tiêu chảy cấp tại Hà Nội, cụ thể: từ ngày 31/10/2007 đến ngày 30/11/2007 Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện E đã tiếp nhận và điều trị 190 bệnh nhân “tiêu chảy cấp”. Trong đó gồm 28 ca có nhiễm phẩy khuẩn tả (+) trong phân nhờ xét nghiệm soi tươi và cấy phân của người bệnh do Khoa Vi sinh y học thực hiện. Mầm bệnh là Vibrio cholerae sinh typ El-Tor nhóm huyết thanh O1 typ huyết thanh Ogawa.

I. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ:
- Qua khai thác tiền sử, bệnh sử thì thấy 80% bệnh nhân có ăn thức ăn là thịt chó, mắm tôm và rau sống.
- 60% bệnh nhân ăn uống ở ngoài quán, thức ăn mua ở chợ hoặc thức ăn ngoài đường.
- 30% có yếu tố dịch tễ: 2 –3 người cùng sử dụng thực phẩm cùng loại cùng bị mắc bệnh.
- Có 10% có yếu tố liên quan dịch tễ với người bệnh (+) có biểu hiện lâm sàng điển hình nhưng do đã dùng thuốc trước khi vào viện nên xét nghiệm vi khuẩn âm tính.
II. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BỆNH:
- 100% người bệnh có biểu hiện đi ngoài lỏng nhiều lần (10 đến > 20 lần/ ngày), phân toàn nước màu lờ đục như nước vo gạo.
- 90% có nôn (từ 1 – 10 lần) và buồn nôn, nhiều trường hợp miệng nôn, trôn tháo liên tục.
- Không cas nào có sốt.
- 10% có biểu hiện mất nước độ II và III, có truỵ mạch, tụt huyết áp, tinh thần lơ mơ, khó thở.
- Phần lớn người bệnh không đau bụng hoặc một số ít có đau bụng quanh rốn nhưng chỉ thoáng qua mà thôi.
- Phân loãng, toé nước, từ màu vàng chuyển sang màu trắng đục như nước vo gạo, có vẩn đục (không có nhầy hoặc máu).
- Không sốt.
II. VỀ XÉT NGHIỆM CẬN LÂM SÀNG:
- Soi và cấy phân: 28 ca (+) với Vibrio cholera sinh typ El-Tor nhóm 01 týp huyết thanh Ogawa.
- CTM: bạch cầu máu tăng 10 – 15.000/mm3
- Hematocrite: tăng nhẹ
Có 5 ca tăng rõ > 0,48 biểu hiện mất nước do cô đặc máu.
- Các xét nghiệm sinh hoá máu như cổ điển đã ghi nhận, các chất điện giải như Natri, Clo và Kali giảm.
IV. ĐIỀU TRỊ:
Về điều trị chúng tôi áp dụng đúng nguyên tắc của Bộ Y tế đã khuyến cáo và chỉ đạo:
- Cách ly triệt để người bệnh.
- Bồi phụ nước và điện giải nhanh chóng và đầy đủ.
- Chống toan chuyển hoá, chống suy thận.
- Dùng kháng sinh để diệt phẩy khuẩn.
Cụ thể:
1. Người bệnh được cách ly triệt để ở 3 khu vực có các ký hiệu: màu đỏ phẩy khuẩn tả (+), màu vàng là khu vực bệnh nhân nghi ngờ và đã được điều trị có phẩy khuẩn (-), màu xanh khu vực bệnh nhân bị mắc bệnh truyền nhiễm khác.
2. Bù nước và điện giải: ngay khi người bệnh đến tại phòng khám bệnh và được nhập viện bằng dịch NaClorid 0,9%, Ringer lactat và các dung dịch đẳng trương. sau 2 –4 giờ bệnh nhân qua khỏi tình trạng shock, tụt huyết áp do mất nước và sau 12 giờ thì ổn định. Lượng dịch trung bình từ 2.000 lít – 5.000 ml/ ngày đầu tiên. Với các trường hợp mất nước độ II-III, đã thiết lập 2 – 3 đường truyền ngoại vi đảm bảo bù đắp nhanh khối lượng tuần hoàn đã mất và đang mất.
Những giờ sau và ngày sau bù đủ lượng dịch đã bị mất theo phân và chất nôn hàng ngày cùng với lượng nước mất do bài tiết sinh lý.
Đến ngày thứ 3, khi bệnh nhân hết đi ngoài thì ngoài lượng dịch bằng đường uống. khối lượng dịch truyền cũng cần duy trì 500 – 1.000 ml mỗi ngày.
3. Kháng sinh:
+ Qua xét nghiệm phân, làm kháng sinh đồ: Phẩy khuẩn tả nhạy cảm với Ciprofloxacin và Azithromicin.
+ Chúng tôi đã sử dụng Ciprofloxacin với liều lượng 1.000 mg/ ngày. Những bệnh nhân trẻ tuổi <15 tuổi và phụ nữ có thai dùng Azithromycin 250mg liều10mg/Kg tính theo cân nặng x 3 ngày.
4. Kết quả điều trị:
+ 100% bệnh nhân nặng qua giai đoạn shock ngày thứ nhất, mạch, huyết áp ổn định và được duy trì truyền dịch và đường uống đến ngày thứ 3, sau đó chuyển sang đường uống hoàn toàn.
+ 90% hết đi ngoài vào ngày thứ 3
+ Sau 3 ngày điều trị kháng sinh: cấy phân lần 2 và 3, 100% vi khuẩn (-) Chúng tôi tổ chức soi và cấy phân liên tiếp cách nhau 1 – 2 ngày.
+ Đến ngày thứ 7 – 8: xét nghiệm lại phân lần 3. Phẩy khuẩn đều âm tính, mới cho bệnh nhân xuất viện.
+ Sau 12 ngày (31/10 – 11/10/2007): không có ca tiêu chảy nào có phẩy khuẩn tả (+) trong phân.
Tính đến hết ngày 30/11/2007: không có thêm bệnh nhân tả (+) vào viện.
V. DỰ PHÒNG:
- Bệnh viện đã thành lập ngay Ban chỉ đạo phòng chống dịch tiêu chảy cấp ngay ngày phát hiện ca tiêu chảy dạng tả đầu tiên .
- Hàng ngày bệnh viện cập nhật các ca tiêu chảy cấp và các ca tiêu chảy có phẩy khuẩn tả (+) báo cáo về Bộ Y tế và Trung tâm Y tế Dự phòng Hà Nội.
- Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp cách ly.
- Xử lý phân và chất thải bằng Cloramin B 10% tỷ lệ 1:1.
- Khử khuẩn toàn bộ chăn màn, dụng cụ phương tiện của người bệnh và phương tiện chuyên chở.
- Vệ sinh cá nhân, vệ sinh buồng bệnh nghiêm ngặt.
- Các chất thải phát sinh tại chỗ được thu gom, xử lý như chất thải ô nhiễm.
- Phát thuốc điều trị dự phòng cho cán bộ và nhân viên trực tiếp điều trị tại khoa Truyền nhiễm (coi như ổ dịch): Azithromycin.
- Kiểm tra nuôi cấy tìm phẩy khuẩn tả trong khu vực buồng bệnh, hệ thống nước sạch và hệ thống nước thải của bệnh viện đều (-). Riêng hệ thống nước thải bẩn cấy lần 1 (+) nghi ngờ có phẩy khuẩn dạng tả đã được khoa Chống nhiễm khuẩn xử lý triệt để bằng Cloramin B. Tổng lượng dùng 136kg cho toàn hệ thống các khoa phòng kể cả hệ thống nước sạch, nước thải của bệnh viện. Kết quả qua nuôi cấy kiểm tra lần 2 – 3 hệ thống nước thải đều có phẩy khuẩn(-), không có phẩy khuẩn dạng tả.
VI. VỀ CHẾ ĐỘ PHÒNG CHỐNG DỊCH:
Bệnh viện đã thực hiện tốt chế độ báo cáo và chế độ trực, chế độ chính sách phòng chống dịch cho người bệnh và nhân viên y tế kịp thời, tổ chức công tác phòng chống dịch bệnh tốt được đoàn kiểm tra phòng chống dịch của Bộ Y tế khen ngợi.
Ngay khi nhận thấy số cas tiêu chảy cấp tăng đột biến bất thường và dấu hiệu lâm sàng có triệu chứng giống bệnh tả, Bệnh viện đã lập tức cho xét nghiệm soi tươi và nuôi cấy để tìm phẩy khuẩn tả, ngay trong ngày đầu tiên 31 tháng 10 đã phát hiện ca bệnh ỉa chảy cấp có phẩy khuẩn tả dương tính trong phân bằng nuôi cấy và làm test ngưng kết kháng nguyên với phẩy khuẩn tả. Test do viện vệ sinh dịch tễ cung cấp. Bệnh viện đã thành lập ngay Ban chỉ đạo phòng chống dịch tiêu chảy cấp do một đồng chí phó giám đốc phụ trách và đồng thời báo cáo ngay cho Bộ y tế và trung tâm y tế dự phòng Hà nội để có kế hoạch chỉ đạo.Tổ chức công tác điều trị và dự phòng chống dịch chu đáo(xin gửi kèm theo văn bản phân công công tác và giao nhiệm vụ cho các khoa phòng để chống dịch tích cực, khẩn trương, hiệu quả, chính xác, không để xảy ra một cas nào tử vong(dịch xảy ra tại bệnh viện phát hiện ca tiêu chảy đầu tiên có phẩy khuẩn tả (+) từ ngày 31/10 và kết thúc vào ngày 11/11 với ca tả cuối cùng nuôi cấy phân (+)). Kiên quyết không để dịch lây lan trong bệnh viện và ra ngoài cộng đồng.
Sau khi hết dịch Bệnh viện đã tổ chức tổng kết và làm tốt công tác thi đua khen thưởng cho các cán bộ trực tiếp và gián tiếp phòng chống dịch tiêu chảy cấp.
                                                                        Ths. Phạm Văn Tùng- PGĐ Bệnh viện E.

  Bài cùng chuyên mục
Ôi lại tai nạn   (28/12/2006)
Khoa Cơ Xương Khớp - Mười năm xây dựng và phát triển (1996-2006)   (4/1/2007)
Bài phát biểu nhân ngày Giáo sư Trần Ngọc Ân nghỉ hưu   (4/5/2007)
Nguy cơ streess tăng cao ở nhân viên y tế   (15/5/2007)
Bài phát biểu của Thạc sỹ Yvette Spero tình nguyện viên của WHO   (18/5/2007)
Báo cáo chương trình chống nhiễm khuẩn năm 2005   (18/6/2007)
Bài phát bểu Nhân ngày 27-2 của PGS.TS Đoàn Hữu Nghị   (3/3/2008)
Những hoạt động của Phòng Điều dưõng năm 2007   (5/3/2008)
PHÒNG KHÁM 13 PHAN HUY CHÚ - BỆNH VIỆN E   (18/4/2008)
Xem nhiều nhất
Bài phát bểu Nhân ngày 27-2 của PGS.TS Đoàn Hữu Nghị   
Bài phát biểu nhân ngày Giáo sư Trần Ngọc Ân nghỉ hưu   
Bài phát biểu kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Bệnh viện E Trung ương   
Công tác phòng chống dịch tiêu chảy cấp tại Bệnh viện E   
Nên dùng biện pháp nào để tránh thai?   
 
Bài mới nhất
TUẦN III/9/2010: TRUNG THU   
Baó cáo thành tích Bệnh viện E nhân ngày Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân về thăm và làm việc tại Bệnh viện   
MELAMINE- SÁT THỦ TRONG NHỮNG LY SỮA   
BỆNH CHÂN TAY MIỆNG   
PHÒNG KHÁM 13 PHAN HUY CHÚ - BỆNH VIỆN E   
TIÊU ĐIỂM  
Hút thuốc thụ động dễ bị tiểu đường

Một nghiên cứu tại Anh tìm thấy những ai hút thuốc thụ động có thể gia tăng tình trạng giảm dung nạp glucose - tiền thân của tiểu đường. Nghiên cứu do Thomas Houston tại Trung tâm y tế Birmingham ở Alabama, tìm thấy những người hút thuốc có nguy cơ giảm dung nạp glucose với tỷ lệ 22%, so với 17% nguy cơ phát triển bệnh ở những người hút thuốc thụ động.

Album ảnh